GOSPELNET
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH NĂM A

TIN MỪNG: Lc 24, 13 - 35

Ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Ðang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Ðức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người.

Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay". Ðức Giê-su hỏi: "Chuyện gì vậy ?" Họ thưa: "Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Ðấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy". Bấy giờ Ðức Giê-su nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Ðấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?" Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

Khi gần tới làng họ muốn đến, Ðức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn". Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?"

Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: "Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon". Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

SUY NIỆM 1:

NHẬN RA CHÚA GIÊ-SU TRONG CUỘC SỐNG

1. CÁC MÔN ÐỆ ÐỨC GIÊ-SU GẶP NHIỀU KHÓ KHĂN TRONG VIỆC TIN VÀO VIỆC NGƯỜI ÐÃ PHỤC SINH:

Ðọc các bài Tin Mừng liên quan tới việc Ðức Giê-su Phục Sinh, chúng ta thấy rất rõ là các môn đệ của Người gặp rất nhiều khó khăn trong việc tin rằng Người đã sống lại sau khi chết trên thập giá và được mai táng trong mồ. Có nhiều lý do giải thích nỗi khó khăn lớn lao ấy của các ngài:

§   Việc một con người sống lại sau khi đã chết là một sự kiện hiếm có trong đời. Có lẽ vì thế mà trong khi thi hành sứ mạng rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa trong dân Ít-ra-en, Ðức Giê-su đã làm nhiều phép lạ làm cho kẻ chết sống lại, để chuẩn bị tâm hồn các môn đệ. Hai câu chuyện nổi bật và cảm động nhất là của anh chàng thành niên con bà góa thành Na-im và của La-da-rô làng Bê-ta-ni-a. Với phép lạ làm cho kẻ chết sống lại, Ðức Giê-su xác định Người là Sự Sống và Sự Sống Lại tức là Nguồn Sống và Quyền Năng Phục Sinh.

§   Các môn đệ cũng như người Do-thái hiểu sai một cách trầm trọng về tính chất và cách thức thi hành sứ vụ Mê-si-a của Ðức Giê-su. Khám phá ra và tin rằng Ðức Giê-su là một vị ngôn sứ, là Ðấng Mê-si-a mà Thánh Kinh đã loan báo thì các môn đệ không gặp mấy khó khăn. Nhưng để hiểu chính xác tính chất Mê-si-a và đồng tình với cách Ðức Giê-su thực hiện sứ vụ ấy thì họ không sao vượt qua được não trạng và tâm thức của người thời bấy giờ. Theo họ thì công việc quan trọng nhất mà Ðấng Mê-si-a phải thực hiện - nhân danh Thiên Chúa - là lập lại trật tự xã hội, chính trị của Nước Ít-ra-en. Mà Nước Ít-ra-en đang mất chủ quyền, vì đang bị người Rô-ma là lũ quân ngoại giáo tàn bạo thống trị.

Thế nên người Do-thái và cả 12 Tông đồ âm thầm chờ đợi Ðức Giê-su thực hiện một cuộc đảo chánh chính trị lật đổ ngoại xâm, dành độc lập cho Dân riêng của Gia-vê Thiên Chúa. Ðàng này Ðức Giê-su cứ quanh quẩn với những hạng cùng đinh của xã hội, chữa trị bệnh hoạn tật nguyền cho họ... thì các lãnh đạo Do-thái và Nhóm 12 sốt ruột. Thậm chí họ còn tìm cách đẩy Ðức Giê-su vào thế phải "ra tay". Và khi thấy Người bị giết thì họ thất vọng. Ðó chính là tâm trạng của hai môn đệ Em-mau. Nói cách vắn gọn: Người Do-thái, kể cả các môn đệ, hiểu vai trò của Ðấng Mê-si-a theo nghĩa chính trị trong khi Ðức Giê-su hiểu theo nghĩa tôn giáo và tâm linh: một đàng là Ðấng Mê-si-a "vinh quang" một đàng là Ðấng Mê-si-a "đau khổ".

2. ÐEM LỜI CHÚA VÀO CUỘC SỐNG, CHÚNG TA CÓ NHỮNG ỨNG DỤNG SAU ÐÂY:

§   Ðức Giê-su không chỉ là Ðấng thực hiện Lời Thánh Kinh mà còn là Ðấng giải thích, cắt nghĩa Lời Thánh Kinh: Sự mê muội và cứng lòng của hai môn đệ Em-mau cũng như của các môn đệ khác chỉ được khai sáng và thay đổi khi họ nghe được chính Ðức Giê-su giảng giải ngọn nguồn Thánh Kinh. Ðức Giê-su không chỉ là Ðấng thực hiện mà Người còn là Ðấng giải thích, làm cho hiểu những bí ẩn thâm sâu của Thánh Kinh. Vì thế muốn hiểu Lời Chúa trong Thánh Kinh và trong cuộc đời, chúng ta phải biết nhờ đến Người.

§   Ðức Giê-su chỉ tỏ mình ra cho chúng ta khi chúng ta mời Người ở lại và ngồi bàn với chúng ta: Hai môn đệ Em-mau chỉ nhận ra Ðức Giê-su khi họ mời Người ở lại dùng bữa tối với họ và khi Người bẻ bánh với những lời nguyện và cử chỉ của riêng Người thì mắt họ mở ra. Nếu chúng ta muốn nhận ra Chúa Giê-su Phục Sinh và muốn gặp được Người thì chúng ta phải xác tín rằng Người luôn hiện diện ở bên cạnh và trong cuộc đời chúng ta, Người luôn đồng hành với chúng ta. Chỉ cần chúng ta tạo điều kiện cho Người xuất hiện, bằng một lời mời, một lời cầu xin chân thành và tin tưởng.

§   Chúng ta chỉ có thể giúp người khác nhận ra Chúa Giê-su Phục Sinh và gặp được Người khi chúng ta có những lời nói và hành động như Người và của Người: Nếu chúng ta muốn giúp người khác nhận ra Chúa Phục Sinh và gặp gỡ được Người thì chúng ta phải có những thái độ, cử chỉ, lời nói có tính khai sáng và giải phóng như Người. Không hẳn là những lời khuyên bảo xáo rỗng mà chúng ta thường "ban phát" một cách dễ dàng, nhưng là một sự quan tâm thực sự và hiện diện tích cực, là một sự chia sẻ, hiến dâng ( mà cử chỉ bẻ bánh là biểu tượng ) và là đời sống cầu nguyện gắn bó chặt chẽ với Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Ðấng Phục Sinh, xin Chúa giúp chúng con biết yêu mến Thánh Kinh và ham học hỏi tìm hiểu Thánh Kinh để rút ra những ứng dụng thực hành trong cuộc sống !

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Ðấng Phục Sinh, xin Chúa giúp chúng con biết nhận ra Chúa trong cuộc sống của chúng con và biết giúp người khác nhận ra Chúa trong cuộc đời của họ! Amen !

Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

SUY NIỆM 2:

HAI MÔN ÐỆ TRÊN ÐƯỜNG EM-MAU

 Soeur Sourire trong một bài hát có viết rằng: "...Tất cả mọi nẻo đường của trần thế sẽ dẫn ta về quê Trời". Bài ca ấy thật đơn sơ, dễ thương, dễ đi vào lòng người. Với cây đàn ghi-ta trên tay, với giọng ca ấm, nhẹ, soeur Sourire đã đưa nhiều người đi từ thế giới thực tại tới quê hương đích thực, xa vời vợi là một thế giới linh thiêng: Nước Trời. Vâng, hàng ngày ai cũng phải đặt chân trên một con đường nào đó hoặc con đường nhựa trải rộng, thẳng tắp, ngút ngàn hay con đường mòn, nhỏ bé, ngoằn ngoèo, hoặc trên một chuyến ô tô, tầu thủy, máy bay.

Tất cả những con đường ấy đều đưa một người hay nhiều người tới một đích điểm, một bến bờ, một nơi chốn. Hai môn đệ trên đường Em-mau cách đây gần 2.000 năm, sau biến cố Thầy mình bị bắt, bị kết án tử hình, bị treo trên thập tự giá, được mai táng trong mồ, và lúc này đây họ đã được thông báo Thầy mình đã sống lại, không còn trong mồ... Biến cố Chúa chết và sống lại đang làm họ hoang mang, lo âu, sợ sệt, thất vọng vì Con người có tên là Giê-su, Ðấng nổi lên như một vị có quyền năng lớn lao, đã làm những việc lớn lao kỳ diệu: chữa nhiều bệnh hoạn tật nguyền, xua trừ ma quỷ, làm cho kẻ chết sống lại và đem Tin Mừng công bố cho những kẻ nghèo khó. Họ đã hoàn toàn đặt kỳ vọng vào Ngài, họ tin tưởng Vị Cứu Tinh là Vua sẽ khôi phục lại nước Ít-ra-en và họ sẽ chia nhau ghế trong nội các của Chúa Giê-su theo cái nhìn trần tục của họ.

Thế là hết, Thầy mình đã chết, mọi hy vọng của họ đã vỡ tan tành, những hoài bão, ước mơ của họ đã hoàn toàn sụp đổ, họ chẳng còn tin gì nữa, giờ đây trước mắt họ chỉ là mầu đen u tối bao trùm. Chúa Giê-su đã chết và nay đã là ngày thứ ba...

I. VẪN LÀ CON ÐƯỜNG SÁNG:

Hai môn đệ trên đường về quê để trở lại nghề cũ, khởi lại công việc từ đầu, đã thất vọng ê chề. Họ nói chuyện với nhau về biến cố vừa qua, rồi họ bàn tính xem phải làm việc gì cho ra tiền, cho xứng danh vì đã lặn lội, từ bỏ theo Thầy mấy năm. Trở về làng cũ để ôm hận, thất bại thì quả là vô nghĩa quá ! Nỗi thất vọng càng gia tăng khi con đường Em-mau mù mịt, đầy bụi, đầy đất. Mầu đen bao phủ như mây đen vần vụ báo cơn mưa lớn vẫn đang đè nặng trên hai môn đệ.

Sự kiện mồ trống, lời loan báo của mấy người phụ nữ và việc kiểm chứng của Phê-rô, Gio-an vẫn không làm họ an lòng, không làm họ nguôi ngoai cơn buồn chán. Họ vẫn bước những bước nặng nề, mệt mỏi vì đường xa, hiu quạnh. Bỗng có người khách bộ hành xuất hiện, cùng họ sánh bước. Họ vẫn nói chuyện về biến cố vừa qua. Người khách bộ hành giả như không hay biết chuyện gì và rồi vặn hỏi họ. Họ đã trả lời cách rất tự nhiên, thành thật trước lời yêu cầu của vị khách bộ hành về tất cả nỗi thất vọng ê chề của họ khi vị Thầy khả kínỏc họ đã bị giết chết oan uổng...

 Chính lúc niềm hy vọng đã trở thành thất vọng, thì người khách đồng hành sau khi nghe họ kể lể, than van, chán nản, đã khơi trong lòng họ niềm hy vọng lớn lao. Sự an ủi được nhen nhúm trong lòng họ vì người khách ấy đã nói toạc ra với họ về sứ mạng và vai trò của Ðấng Cứu Thế trong việc cứu rỗi nhân loại qua cái chết tang thương khổ giá. Người đã cắt nghĩa Kinh Thánh cho họ và dựa vào các Ngôn Sứ, Mô-sê để nói cho họ về Ðấng Mê-si-a, nghĩa là chính Người: "Ðức Giê-su Ki-tô phải chịu đau khổ rồi mới được vinh hiển" ( Lc 24, 26 ).

Lòng họ bừng cháy hừng hực vì họ thấy được ủi an và họ cảm mến người lữ hành đã đốt lên ngọn lửa hy vọng trong cõi lòng họ đang tê tái, tan nát, ê chề... Con đường vẫn còn xa tít mù khơi, chiều dần buông xuống, hai môn đệ cố nài người khách vào quán trọ bên đường Em-mau với họ để nghỉ ngơi, dùng bữa và lại tiếp tục cuộc hành trình về quê. Vị lữ hành giả bộ cứ đi và trước thịnh tình của hai môn đệ, Người đã vào quán trọ dùng bữa tối với họ, chính giờ phút ngồi vào bàn họ vẫn chưa nhận ra Chúa Giê-su Phục Sinh. Hai môn đệ chỉ nhận ra Ðức Giê-su khi: "...Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ" ( Lc 24, 30 ).

Và Lu-ca nói, khi mắt họ mở ra nhận ra chúa Giê-su, Người lại biến mất ( Lc 24, 31 ). Lời ca du dương, trầm bổng, có lúc cho ta có cảm tưởng cao vút trời mây của bài ca: "Tất cả mọi nẻo đường" của Soeur Sourire đã chỉ ra rằng nhận ra Chúa trên mọi nẻo đường của đời sống là lúc ta đạt được Nước Trời như hai môn đệ trên đường Em-mau đã hạnh phúc, hết âu lo và lấy lại sự bình an tâm hồn khi mắt họ mở ra thấy được Chúa Phục Sinh.

II. CHÚA PHỤC SINH ÐANG ÐỒNG HÀNH VỚI TA TRÊN MỌI NẺO ÐƯỜNG:

Oscar Wilde có viết một câu đầy thú vị: "Xuyên qua một trái tim bị dập nát, Chúa Ki-tô có thể bước vào". Trên cuộc hành trình đức tin, trong cuộc sống hằng ngày, có nhiều lần và rất nhiều lần chúng ta cũng có cái nhìn, suy nghĩ bi quan, yếm thế như hai môn đệ trên đường Em-mau. Khi gặp chông gai, thử thách, khó khăn, chúng ta dễ nản chán, có khi chán nản, thất vọng. Ðức Tin của ta còn non yếu hay ta chưa đủ đức tin để tin nhận Chúa Giê-su sẽ giúp ta giải quyết những khó khăn, khúc mắc, những ngõ cụt của đời ta. Chúa Phục Sinh vẫn luôn đồng hành với ta trên mọi nẻo đường, ta tìm Ngài sẽ gặp được Ngà: "...Mỗi lần ta làm một việc nào tốt cho một người bé nhỏ là ta đã làm cho Chúa" ( Mt 25, 31 - 46 ) hay ta nhân danh Chúa mà cầu nguyện, mà hoạt động thì chính Chúa sẽ hoạt động trong ta.

Phê-rô đã cảm nghiệm Chúa tha thứ và hiện diện với ông làm sao khi ông nhìn vào Chúa và Chúa quay nhìn ông trong đêm Ðức Giê-su bị bắt. Và kinh nghiệm của Phao-lô trên đường Ða-mát đã chứng minh ông đã gặp Chúa như thế nào và ông đã đối diện với Chúa làm sao ? Các Tông Ðồ khác cũng có những cảm nghiệm như thế khi đối diện với Ðấng Phục Sinh, khi họ được Chúa Thánh Thần khai mở trí cho họ. Gio-an đã thấy Chúa Phục Sinh khi Người đi trên mặt hồ và Phê-rô đã nhảy tõm xuống nước khi nghe Gio-an nói: "Chúa đó ".

Vâng, các Thánh là những người đã gặp được Chúa vì họ dám tin và dám liều mình để tin. Thánh Phan-xi-cô Khó Khăn đã nhận ra Chúa trong sự khó nghèo và Ngài đã thực hiện sự nghèo khó ấy qua cuộc sống, qua Dòng Tu Ngài để lại cho Giáo Hội, cho thế giới. Thánh An-phong, Thánh I-nha-xi-ô thành Loyola và nhiều Thánh khác đã minh chứng hùng hồn rằng họ đã gặp Chúa và để lại cho các sĩ tử trong Dòng của các mình để giới thiệu Chúa Phục Sinh cho người khác.

Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta đã nói: "Hãy làm một cái gì tốt, cái gì đẹp cho Chúa..." Cái tốt, cái đẹp trong việc phục vụ người nghèo, người neo đơn, người hấp hối, cứu thoát các trẻ nhỏ trong bụng mẹ là những cử chỉ, những hành động đầy tình thương, đầy ấn tượng, Mẹ Tê-rê-xa Calcutta và các Nữ Tu Thừa Sai Bác ái của Mẹ đã làm vì Mẹ tin tưởng các hành động, các việc làm bác ái ấy là đang làm cho Chúa Phục Sinh.

Chúa Phục Sinh đã giải thích Thánh Kinh và thông hiệp bữa ăn với hai môn đệ trên đường Em-mau, Chúa Phục Sinh vẫn tiếp tục làm cho chúng ta những điều đó, Người đang đồng hành với ta trên mọi nẻo đường. Người hiện diện trong các giờ kinh nguyện, trong các giờ Phụng Vụ đọc Lời Chúa. Cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi mà Sách Tông Ðồ Công Vụ thuật lại là bằng chứng hùng hồn nói lên sự hiện diện của chúa ( Cv 2, 42 - 46 và 4, 32 - 34 ). Chúa hiện diện trong Thánh Lễ đầu tiên sau khi Ngài sống lại với hai môn đệ ( Lc 24, 30 ). Chúa vẫn tiếp tục hiện diện với nhân loại qua mọi Thánh Lễ mà các Linh Mục cử hành hàng giây, hàng phút, hàng giờ trên thế giới này.

Chúa sống lại vẫn đang đồng hành với nhân loại trên mọi ngả đường, trên vạn nẻo đường, Người sẽ biến đổi tâm trí và cõi lòng con người như đã biến đổi hai môn đệ xưa nhận ra Ngài. Liệu đã nhiều lần Chúa Phục Sinh đồng hành với ta, ta đã nhận ra Người hay chưa ? Ta đã đi với nhiều người trên đường, trong cuộc sống, họ là hiện thân của Chúa Phục Sinh, có lẽ rất nhiều lần ta đã không nhận ra Chúa sống lại đang ở trong họ ( Mt 25, 31 - 46 ). Xuyên qua một con tim tan nát, dầy vò, chán nản, thất vọng, Chúa Phục Sinh sẽ biến đổi nó để Người ngự trị. Chúa Phục Sinh sẽ ở với ta, sẽ đồng hành với ta trên mọi ngõ ngách, trên mọi nẻo đường của cuộc đời, Ngài luôn hiện diện trong Lời của Ngài và trong Bí Tích Thánh Thể.

Hãy đọc kỹ lời này của Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta: "Hoa trái của lòng tin là tình yêu. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Hoa trái của phục vụ là bình an". Có bình an trong tâm hồn và thể xác, ta mới nhận ra được sự có mặt của Chúa vì Chúa là Tình Yêu và Bình An.

 Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỠI, DCCT, Giáo Phận Ðà-lạt

SUY NIỆM 3:

ÐỨC GIÊ-SU ÐỒNG HÀNH

TAM NHÂN ÐỒNG HÀNH TẤT HỮU NGÃ SƯ YÊN

Ở đây người thày đó chính là Thày Chí Thánh của chúng ta. Còn hai người kia là ai ? Ta hãy nghe Lu-ca thuật chuyện.

Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số ( c. 13 ). Hôm ấy là Chủ Nhật Phục Sinh. Có hai người trong nhóm môn đệ Ðức Giê-su đi từ Giê-ru-sa-lem về quê là làng Em-mau. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra ( c. 14 ). Chính Ðức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ ( c. 15 ).

Cựu Ước viết: "Thiên Chúa cùng đi với họ" trong vườn địa đàng. Ðức Giê-su, "Con Một Thiên Chúa, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật", một lần nữa cùng đi với con người. Ở đây Ngài đi cùng con người đang khi họ thất vọng não nề, lòng tin lung lay, mộng đẹp tan vỡ. Ngài đi cùng họ trong cuộc hành trình đức tin, trên con đường lữ thứ trần gian.

Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Ðức Giê-su hỏi: "Chuyện gì vậy ?" ( c. 17 - 19a ). Ðược lời như cởi tấm lòng, họ được dịp trút hết nỗi phiền muộn âu lo đang đè nặng tâm tư. Họ thưa: "Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân" ( c. 19b ).

Câu trả lời của Cơ-lê-ô-pát tóm tắt cuộc đời và sứ mạng của Ðức Ki-tô. Ông kể lể về cuộc thương khó và cái chết của Ngài: "Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá" ( c. 20 ). Ôngï bày tỏ nỗi thất vọng não nề của các môn đệ: "Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Ðấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi" ( c. 21 ).

Ông thuật lại sự việc vừa mới xảy ra buổi sớm mai còn tươi rói trong tâm trí của mình: "Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy" ( c. 22 - 24 ).

Bấy giờ Ðức Giê-su nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Ðấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh" ( c. 25 - 27 ).

Trước đó, Ðức Giê-su đã bảo người Do-thái: "Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi" ( Ga 5, 39 ). Khi tuyên bố điều ấy, Ngài chỉ cho ta một phương thế chắc chắn để nhận biết Ngài. Ðức Phao-lô IV dạy ta rằng ngày nay cũng vậy, việc chuyên cần đọc Sách Thánh và tôn kính Lời Chúa là một ơn linh hứng rõ rệt của Chúa Thánh Thần. "Các tiến bộ đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu Kinh Thánh, việc phổ biến, phát hành Sách Thánh ngày càng gia tăng, và trên hết là gương mẫu của truyền thống và tác động từ bên trong của Ðức Chúa Thánh Thần có chiều hướng giúp người Ki-tô hữu thời nay ngày càng sử dụng nhiều Kinh Thánh như cuốn sách kinh nguyện căn bản và kín múc, rút ra từ đấy nguồn linh hứng thực sự và các gương mẫu tuyệt vời vô song" ( Ðức Phao-lô VI, Marialis Cultus, 30 ).

QUA THẬP GIÁ BƯỚC VÀO VINH QUANG

Thấy các môn đệ sa sút, xuống tinh thần, Ðức Giê-su kiên nhẫn mở lòng trí cho họ hiểu ý nghĩa các đoạn Kinh Thánh nói về Ðấng Mê-si-a: "Nào Ðấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?" ( c. 26 ). Với lời này, Ngài gột rửa khỏi tâm trí các ông hình ảnh về một đấng Mê-si-a trần tục nặng về tính chính trị và tỏ bày cho các ông thấy sứ mạng của Ðức Ki-tô là một sứ mạng siêu nhiên: cứu chuộc cả nhân loại.

Kinh Thánh nói tiên tri về Thiên Chúa quyết ý ban ơn cứu độ cho nhân loại qua cuộc thương khó và cái chết của Ðấng Mê-si-a. Thập Giá không phải là thất bại, mà là thắng lợi vĩ đại nhất, thắng lợi của sự sống trên sự chết, của ân sủng trên tội lỗi, tình yêu chiến thắng hận thù, ánh sáng chiếu soi trên bóng đêm u tối. Mác-cô thuật cho chúng ta vào chiều thứ sáu Tuần Thánh trên đồi Can-vê, "bóng tối bao phủ khắp mặt đất" ( Mc 15, 33 ) nhưng vào buổi sáng Phục Sinh "mặt trời hé mọc" ( Mc 16, 2 ).

Phao-lô quả quyết rằng thập giá chính là con đường Thiên Chúa đã chọn cho Ðức Ki-tô qua đó chiến thắng tội lỗi và sự chết: "Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Ðấng ấy chính là Ðức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa" ( 1 Cr 1, 22 - 24 ).

Vinh quang Phục Sinh gắn liền với cây Thập Giá như hai mặt của cùng một tấm huy chương. Ðúng như Chúa đã nói với hai môn đệ thành Em-mau: "Ðức Ki-tô phải chịu khổ hình để bước vào vinh quang của Ngài" ( Lc 24, 26 ).

Cho nên nhà thần học Burno Forte đã viết một cách chí lý: "Khuôn mặt của Chúa Ki-tô được tỏ bày cách đầy đủ trong sự nối kết cái chết nhục nhã của Ngài với sự phục sinh của Ngài: Không có sự phục sinh, cây thập giá sẽ là sự thú nhận sau cùng của bất lực của con người, nhưng được rực sáng bởi sự Phục Sinh, cây thập giá đã là Thập Giá của Con Thiên Chúa, chết thay cho ta và vì ta, vì Ngài liên đới với những đau khổ của nhân loại. Còn nếu không có thập giá, sự Phục Sinh sẽ là lời công bố một chiến thắng không có kẻ thù; trái lại, liên kết với cây thập giá, sự sống lại của Ðấng bị đóng đinh trên Thập Giá sẽ là lời công bố cuộc chiến thắng của Thiên Chúa trên trái đất này, trái đất của những kẻ chết và những tên đao phủ. Không có Phục Sinh, Thập Giá sẽ như mù, không có tương lai, không có hy vọng; nhưng không có thập giá, phục sinh sẽ rỗng tuếch, không có quá khứ và không có gốc rễ. Khoa Ki-tô học phải luôn giữ cả hai, Thập Giá và Phục Sinh, nếu muốn tìm kiếm khuôn mặt của Chúa Giê-su, mà không làm sai lệch hoặc không bóp mép khuôn mặt đó theo mẫu mực những chân trời nhân loại". ( The Navarre Bible St Luke, Nhà Xuất Bản Four Courts Press, Kill Lane, Blackrock, Co. Dublin, Ireland, 1997 )

Có ai hiểu Kinh Thánh cho bằng Ðức Ki-tô. Và sau Ngài, Hội Thánh được uỷ thác sứ mạng giữ gìn và giải thích kho tàng Lời Chúa: "Mọi điều liên hệ đến việc giải thích Kinh Thánh cuối cùng đều phải tuỳ thuộc vào phán quyết của Hội Thánh vì Hội Thánh được Thiên Chúa giao cho sứ mạng và chức vụ giữ gìn và giải thích Lời Chúa" ( Vatican II, Dei Verbum, 12 ).

GẶP GỞ ÐỨC KI-TÔ PHỤC SINH, NIỀM VUI VÀ BÌNH AN

Trong cuộc chuyện trò với Ðức Ki-tô, hai môn đệ đang từ tâm trạng buồn chán, thất vọng chuyển sang mừng rỡ hân hoan. Họ cảm thấy an vui, phấn khởi, hy vọng trở lại. "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?" ( c. 32 )

Khi hai môn đệ bắt đầu cuộc hành trình, lòng các ông lạnh giá, ảo não nặng nề, chua chát. Họ đã chắc mẫm hai năm rõ mười rằng Ðức Giê-su là Ðấng Mê-si-a mà lòng họ mong đợi. Thế nhưng cái chết của Ngài đã dập tan mọi hy vọng nhen nhúm. Một Ðấng Mê-si-a chịu khổ hình thập giá nhục nhã ! Thật chẳng tài nào xảy ra sự kiện đó được ! Chẳng thể tưởng tượng được !

Thế nhưng khi có Ðức Giê-su đồng hành và soi lòng mở trí cho họ hiểu về Ðấng Thiên Sai chịu đau khổ. Lời Ngài sáng soi và sưởi ấm cõi lòng u tối và lạnh giá của họ. Khi được Ngài mạc khải qua việc bẻ bánh, họ được biến đổi. Họ được biến đổi sâu xa đến nỗi ngay lập tức họ quày quả hăm hở trở về chính nơi họ vừa mới bỏ mà ra đi. Dù trời nhá nhem chạng vạng, lòng họ sáng. Dù đôi chân nặng nề vì cuộc hành trình mới trải qua, tâm hồn họ nhẹ nhõm lâng lâng.

Ðiều gì đã thực sự xảy ra ? Ðức Giê-su đã mở trí cho họ. Hẳn nhiên rồi ! Nhưng còn hơn thế nữa: Ngài đốt lửa trong lòng họ khiến tim họ bừng cháy. Thánh Âu-tinh mách ta một bí quyết để gặp Chúa: "Nếu bạn muốn có sự sống, hãy làm điều các môn đệ đã làm. Họ ban tặng Ngài lòng hiếu khách. Chúa làm như thể cương quyết tiếp tục cuộc hành trình nhưng họ cố nài ép, lưu Ngài lại. Kết thúc cuộc hành trình của mình, họ nói với Ngài: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn". Chúa tự mạc khải qua việc bẻ bánh. Lòng hiếu khách đã phục hồi điều mà sự thiếu lòng tin đã lấy đi. Vậy, nếu bạn muốn nhận ra Ðấng Cứu Thế, hãy đón nhận người lạ. Hãy tìm kiếm Chúa trong việc chia cơm sẻ bánh".

KẾT LUẬN

Ðức Ki-tô có thể đến với tôi như một người lạ tôi gặp trên đường đời, cho dù tôi chỉ gặp mỗi một lần. Lại còn phê bình tôi - mà rất đúng - "Ôi, chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí chậm tin !" Ngài còn có thể đến với tôi trong Kinh Thánh và qua tiệc Thánh Thể khi Linh Mục "bẻ bánh", nghĩa là Ngài đến với tôi trong Hội Thánh qua Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Sau cùng Ngài có thể đến với tôi khi tôi ân cần tiếp đãi người khác. Cử chỉ ấy có thể bù đắp cho sự "trì độn, chậm tin" của tôi, giúp tôi được ơn gặp Chúa.

Gần suốt cuộc đời rong ruổi, bôn ba, suy gẫm lại hoá ra cái đáng quý, "sự cần duy nhất" của đời tôi là chính Ðấng Phục Sinh vẫn đồng hành cùng tôi trong cuộc sống. Và rồi khẩn khoản nài xin: "Mời Ngài ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn".

Xin được kết thúc bằng lời cầu nguyện của Cha Pi-ô:

"Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần có Chúa hiện diện để con khỏi quên Chúa. Chúa thấy con dễ bỏ Chúa chừng nào.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ. Không có Chúa, con đâu còn nồng nhiệt hăng say.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn, cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến. Con cần thêm sức mạnh để khỏi dừng lại dọc đường.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời. Con không dám xin những ơn siêu phàm, chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa và không đòi phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu Chúa hơn. "

Lm. ÐAN QUANG TÂM

CẢM NHẬN:

MÙA PHỤC SINH

Các sử liệu cho biết rằng, ngoài việc mừng Chúa Nhật Phục Sinh, thì người Ki-tô hữu vẫn tiếp tục mừng Mùa Phục Sinh từ ngay đầu thế kỷ thứ ba. Mùa này trở thành mùa dài nhất trong giáo hội và lâu 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh cho đến Chúa Nhật Hiện Xuống. Ðây không phải là mùa để làm việc đền tội. Không được phép ăn chay và quỳ gối. Mùa này là để vui mừng vì những điều tốt lành của Chúa.

Vì sao mùa Phục Sinh lại dài đến như vậy ? Vì người Ki-tô hữu tin rằng biến cố Phục Sinh thì quá lớn lao vào quá trọng đại nên không thể mừng trong một ngày duy nhất, thậm chí trong vòng một tuần lễ mà thôi. Vì sao lại 50 ngày, chứ không phải 10 hoặc 20 ? Vì trong truyền thống Do-thái đã có sẵn một ngày lễ gọi là Ngũ Tuần ( lễ mừng Mùa Gặt ) được cử hành 50 ngày sau lễ Vượt Qua. Khi lễ Ngũ Tuần trở thành một ngày lễ mà Ki-tô giáo mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống, thi các Ki-tô hữu đã biến giai đoạn giữa lễ Vượt Qua và lễ Ngũ Tuần thành Mùa Phục Sinh.

Các thượng tế và Pha-ri-sêu nói với Phi-la-tô: "Xin ngài truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước." ( Mt 27, 67 )

Ðâu là chuyện bịp đầu tiên, nghĩa là sự gian dối đầu tiên ? Những nhà lãnh đạo Do-thái, ngay từ đầu, đã nghĩ rằng Ðức Giê-su là một tiên tri giả. Do đó, sự nổi danh của kẻ lừa đảo này là sự gian dối đầu tiên. Trong phần trước của Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, các ký lục và Pha-ri-sêu yêu cầu Ðức Giê-su đưa ra một dấu chỉ. Ngài trả lời rằng họ chẳng được nhìn thấy dấu chỉ nào ngoài dấu chỉ của Giô-na: Cũng như Giô-na ở trong lòng cá voi ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.

Khi chiến đấu với Ðức Tin, chúng ta đứng trước ngã ba đường:

Một là cố gắng tìm ra bằng chứng. Ðiều khó khăn là dường như không bao giờ ta có đủ bằng chứng bởi vì rốt cục Thiên Chúa quá vĩ đại nên không thể vừa tầm với trí óc chúng ta.

Hai là chọn con đường đã được mở ra cho ta đón nhận món quà tình yêu. Ðức Tin là một điều có thực, một điều mà ta có thể cảm nghiệm, và Thiên Chúa ban cho mỗi người như một quà tặng. Chúng ta không thể chứng minh được tình yêu của một ai khác dành cho mình. Nhưng chúng ta có thể trả lời: "Khi một ai đó yêu thương tôi, thì tôi có thể nhìn thấy dấu chỉ của tình yêu của họ". Thế thì dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời của tôi là gì ?

Xin hãy dành một chốc lát thinh lặng với Chúa và suy nghĩ xem...

Theo 6 minutes. JOHN PHAM gửi về. Gs. TRẦN DUY NHIÊN dịch

CÂU TRUYỆN:

QUẢ TRỨNG RỖNG

Jeremy sinh ra với một thân hình co quắp, chậm phát triển trí tuệ kèm với một căn bệnh mãn tính đang giết dần giết mòn sự sống non trẻ của em. Tuy thế, cha mẹ em cũng cố gắng tạo cho em một cuộc sống thật bình thường bằng cách gởi em đến học trường tiểu học St. Theresa.

Tuy đã 12 tuổi, Jeremy vẫn còn học ở lớp hai, và có vẻ không có khả năng học tập. Cô giáo Doris Miller thường căng thẳng vì em. Em loay hoay trên ghế ngồi, mũi dãi chảy ra và lầm bầm không rõ tiếng. Thỉnh thoảng em nói lên được một câu rõ ràng minh bạch, cứ như là một tia sáng bỗng rọi vào bóng tối của đầu óc em... Cô giáo cố hết sức để không quan tâm đến tiếng ồn và cái nhìn ngây dại của Jeremy. Nhưng một hôm em khập khiễng lê chân đi lên bàn cô. Em nói đủ lớn tiếng cho cả lớp nghe: "Thưa cô Miller, em thương cô". Những em khác cười khúc khích, còn cô Doris thì ngượng đỏ mặt. Cô lắp bắp: "Ờ... Ờ... Tốt lắm Jeremy. Bây giờ em về chỗ nhé !"

Mùa xuân đến, và các em học sinh phấn khởi nói về Phục Sinh. Cô Doris kể cho các em nghe chuyện Chúa Giê-su, và để nhấn mạnh đến cuộc sống mới đang nảy sinh, cô đưa cho mỗi em một quả trứng lớn bằng nhựa. Cô bảo: "Này, cô muốn các em đem về và ngày mai đem trở lại sau khi đã đặt vào đó một cái gì nói lên sự sống mới. Các em hiểu không ?" "Thưa cô, hiểu !" Tất cả mọi em đều hăng hái trả lời như thế, ngoại trừ Jeremy. Em chỉ trầm ngâm lắng nghe; mắt em không hề rời mặt cô. Thậm chí em cũng không lầm bầm như mọi khi. Không biết em có hiểu những điều cô nói về Chúa Giê-su không ? Không biết em có hiểu lời cô dặn dò không ?

Sáng hôm sau, 19 em học sinh đến trường, cười cười nói nói khi đặt trứng vào một giỏ mây trên bàn cô Miller. Sau môn toán là đến lúc mở các quả trứng. Trong quả thứ nhất, cô Doris thấy một đóa hoa. Cô bảo: "Vâng phải rồi, hoa là dấu hiệu của sự sống mới. Khi cây đâm chồi ra khỏi đất thì ta biết rằng mùa xuân đã đến." Một bé gái ở hàng đầu đưa tay lên nói to: "Trứng của em đấy, thưa cô !". Quả kế tiếp chứa đựng một con bướm bằng nhựa, giống như thật. Cô Doris đưa lên. "Tất cả chúng ta biết rằng sâu biến thành một con bướm đẹp. Vâng, đây cũng là một sự sống mới." Cậu bé Judy hãnh diện mỉm cười và nói: "Thưa cô, trứng đó là của em !"

Cô Doris lại mở quả trứng thứ ba. Cô chưng hửng. Quả trứng rỗng tuếch ! Chắc chắn là trứng của Jeremy - cô nghĩ thế - dĩ nhiên rồi, vì nó không hiểu lời dặn dò của cô. Bởi không muốn làm cho em lúng túng nên cô bình thản để quả trứng qua một bên và cầm lên một quả khác. Bỗng dưng Jeremy nói rõ: "Thưa cô, cô không nói gì về cái trứng của em sao ?" Cô bối rối trả lời: "Nhưng Jeremy này, trứng của em trống rỗng mà !" Nó nhìn sâu vào mắt cô và khẽ nói: "Vâng, nhưng mộ Chúa Giê-su cũng rỗng mà !"

Thời gian như dừng lại. Khi có thể mở miệng lại được, cô Doris hỏi em: "Em biết vì sao mộ lại trống không ?" Jeremy hô lên: "Thưa cô biết ! Chúa Giê-su bị giết và được đặt vào đó. Rồi Cha của Chúa cho Chúa sống lại !" Chuông ra chơi chợt reo vang. Khi các em bé ùa chạy ra sân, thì cô Doris khóc. Sự lạnh nhạt trong lòng cô đã hoàn toàn tan biến mất rồi.

Ba tháng sau, Jeremy chết. Những người đến nhà xác viếng thăm em đều ngạc nhiên khi nhìn thấy có 19 quả trứng đặt trên chiếc mũ của em... và tất cả các trứng ấy đều rỗng.

NGUYỄN HIỀN sưu tầm và gởi về. TRẦN DUY NHIÊN dịch.

CHIA SẺ:

"VÌ CHÍNH KHI HIẾN THÂN LÀ KHI ÐƯỠC NHẬN LÃNH"

Trong Gospelnet số 56, chúng tôi đã đăng tải một bài viết của Sr. Nguyễn Thị Chung về chuyến đi của các bạn trẻ ca đoàn Xóm 7 - 8 Giáo Xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài-gòn cùng với một số anh chị em ngành Y lên thăm đồng bào dân tộc vùng Tây Nguyên tại điểm truyền giáo Pleichuet của DCCT trong Tuần Thánh vừa qua. Chúng tôi lại mới nhận thêm một bài chia sẻ của chính các bạn thành viên trong Ðoàn...

Là một ca đoàn, "nghề chính" của chúng tôi là ca hát, nhưng chung quanh còn biết bao người kém may mắn, luôn chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, chúng tôi không thể chỉ đến với họ bằng lời ca tiếng hát, mà còn phải biết chìa bàn tay thân ái và quảng đại để chia sẻ với họ. Vì vậy mỗi chuyến đi vui chơi nghỉ mát của ca đoàn, luôn được gắn kèm với một công tác xã hội, vào những dịp như: Mùa Chay, Mùa Vọng, Tết Trung Thu, Lẽ Bổn Mạng ca đoàn... với ước nguyện niềm vui khi chia đi thì sẽ được nhân lên.

Chính vì đây là "nghề phụ", chúng tôi không có sẵn quỹ xã hội, có khi muốn đi nhưng không có tiền, phải "ăn theo" một nhóm công tác xã hội khác, cùng tháp tùng với họ và đóng góp phần cắt tóc, cắt móng, sinh họat, phát thuốc, xức thuốc v.v..., và có khi được mùa bội thu, nhờ lời cầu bầu của Thánh Giu-se, Thiên Chúa đã lo liệu để có những ân nhân mở rộng hầu bao, có đủ kinh phí là chúng tôi khăn gói lên đường.

Mùa Chay năm nay, thay vì đi nghỉ hè tại Mũi Né như dự định, chúng tôi được đặc ân Chúa gọi đến với anh em dân tộc tại Pleiku, một địa danh mà chúng tôi chưa một lần đặt chân đến, chỉ nghe nói như là một tỉnh vùng Tây Nguyên, thuộc Giáo Phận Kontum, nơi được phong là nghèo nhất với các tín hữu người dân tộc nghèo nhất.

Chuyện tổ chức sinh hoạt hội chợ và khám bệnh nhổ răng thật ra không cần chuẩn bị nhiều lắm, nhưng lo nhất vẫn là chuyện tiền nong. Ðã vậy, vào giờ chót một số ân nhân lại không thể đi được hoặc đã nhận giúp tiền lại đột ngột rút lại lời hứa, có lẽ để chuyển cho nơi khác. Ðặc biệt là nhóm y tế, những thứ thuốc cơ bản cần thiết thì lại không đủ tiền để mua. Chị Bình bèn nguyện xin Thánh Cả Giu-se đúng vào ngày lễ 19.3, không ngờ Chúa thương, có những ân nhân quyết định mở rộng hầu bao cho gấp 3 lầnbình thường... Ðúng là Chúa muốn thử lòng tin cậy của ta !

Ðoàn chúng tôi gồm: 2 bác sĩ, 6 nha sĩ, 1 dược sĩ, 1 Soeur, 2 Việt kiều vừa đặt chân về Sài-gòn, ca viên của ca đoàn xóm 7 - 8 thuộc Giáo Xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp và một số anh chị em thiện nguyện, trong đó có cả anh em đạo Phật, tổng cộng 43 người, cùng với 1.150 kg gạo, 30 thùng mì gói, 16 bao quần áo, dược phẩm, đường, sữa... và đồø gia dụng dùng làm phần thưởng cho các gian hàng hội chợ.

Xe khởi hành lúc 20 giờ ngày 22.3.2002, bắt đầu đến quốc lộ 13, Sr. Chung đã hướng dẫn đoàn cầu nguyện và đọc một chuỗi Mai Khôi, phó dâng cho Mẹ chuyến đi và mỗi người trong đoàn. Một số anh chị em bị "sốc", khi ngỡ răng đường đi khoảng 300 km, rằng: "...em Pleiku má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông..." thì sẽ thơ mộng lắm, Chúa ơi, đường thì hẹp, lại ngoằn ngoèo, bụi đỏ mịt mù, đường dài những 547 km, chiếc xe cũ ì ạch leo dốc, lại thêm đi lạc đường mất hơn 1 tiếng đồng hồ ( bác tài chưa 1 lần đi tuyến này ), một số anh chị em không chịu nổi nhồi xóc đã ói cả mật xanh mật vàng. Dự kiến 6, 7 giờ sáng ngày 23.3 đến nơi, nhưng mãi 9 giờ 30 mới được gặp mặt Cha Tài va Thầy Phó Tế Thịnh DCCT, ai cũng mệt nhừ tử.

Thế mà đến nơi thấy bà con đàn ông, đàn bà địu con, và con nít đứng chờ tràn đầy sân, dưới những tán lá che bớt cái nóng gay gắt của Tây nguyên, đó đây vang lên những tiếng ho xù xụ, khò khè. Tuy rất đông nhưng họ rất nghiêm túc, không xô bồ chen lấn. Chúng tôi quên hết mệt mỏi và đói bụng ( vì chưa kịp ăn sáng ), nhanh chóng triển khai công tác, ai vào vị trí nấy, nhóm thì viết toa đăng ký, nhóm đo huyết áp, nhóm khám bệnh, nhóm phát thuốc, nhóm nhổ răng, nhóm cắt tóc, cắt móng ( nhóm nào cùng phải tăng cường thêm anh em địa phương để làm thông dịch viên ), nhóm hậu cần và cả một nhóm kết lá dừa, do một ca viên đã đem theo một cây dừa non từ Sài-gòn, để chuẩn bị cho ngày hôm sau là Chúa Nhật Lễ Lá.

Các nhóm làm việc liên tục đến 18 giờ 30, khám bệnh phát thuốc và nhổ răng cho khoảng 600 người và rất đông cắt tóc, cắt móng... Mọi người được "bồi dưỡng" tại chỗ một tô mì gói thay cho bữa ăn sáng, buổi trưa thay phiên nhau đi ăn cơm và tắm rửa, buổi tối cả đoàn mới được cùng quây quần ăn cơm. Thật bất ngờ, khi đêm xuống, nào là cồng chiêng, nào là rượu cần, nào là thịt rừng nướng, từ trong "bóng đêm" huyền bí của núi rừng, anh em dân tộc đem đến với chúng tôi. Giữa màn sương đêm se lạnh, dưới ánh sáng lù mù của mấy bóng đèn điện, tiếng cồng chiêng trổi lên, cả đoàn như bị một sức hút mãnh liệt cuốn theo giai điệu và âm hưởng của núi rừng để hòa nhập, cùng nhẩy múa, ca hát và vui cười với họ, để rồi 22 giờ chia tay, cổ họng ai cũng gần như bị tắt tiếng.

Về nhà nghỉ, tuy mệt nhiều, Sr. Chung vẫn kêu mời chúng tôi đọc một chuỗi Mai Khôi, mỗi chục kinh hát một bài kính Ðức Mẹ. Dù vậy, đâu đã chịu đi ngủ, ai nấy vẫn còn đủ sức để nói chuyện vui cười râm ran một hồi lâu nữa, đêùn 24 giờ mới chịu đi ngủ. Chợp mắt chưa được bao nhiêu, 5 giờ sáng mọi người đã phải thức dậy để chuẩn bị tham dự Thánh Lễ lúc 6 giờ. Ðây là Một Chúa Nhật Lễ Lá vô cùng xúc động, sốt sắng và long trọng mà có lẽ cả đời người chúng tôi mới có được cơ hội hiếm hoi như thế này, cả anh em đạo Phật cũng cùng cảm xúc như vậy. Cả đến những anh chị đạo Phật cũng thừa nhận rằng Thánh Lễ hết sức trang nghiêm, long trọng và chân thành tự đáy lòng, nhất là buổi kiệu Lá quanh khuôn viên Nhà Thờ. Cha Tài và thầy Thịnh phải dùng cả tiếng Việt lẫn tiếng J’rai để mọi người cùng hiểu. Tiếc là chúng tôi đã không hiểu được phần Lời Nguyện Giáo Dân vì học tự phát bằng tiếng dân tộc, chắc là sâu xa thấm thía lắm, chứ không cứng ngắc và hình thức như trong Lễ của người Kinh thành phố chúng ta.

Lễ xong, vì thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tổ chức được 2 gian hàng hội chợ cho thiếu nhi, do số liệu tiền trạm không chính xác, có đến 250 em, đông gấp ba lần số được thông báo, và có lẽ thấy các em thật dễ thương, các anh chị phát quà tại 2 gian hàng đã thật hào phóng, có em được 2, 3 món quà, một số em chậm chân không còn quà nữa. Nhìn các em khóc tức tưởi một cách cam chịu ( không như trẻ em thành phố sẽ khóc dẫy nẩy lên ), chị ca trưởng vội vàng lấy mì gói của Nhà Thờ ra phát bổ sung...

Trước khi lên xe ra về, chúng tôi quây quần chụyện trò cùng cha Tài và thầy Thịnh. Cha đã ở đây đã 33 năm, từ khi chưa có Nhà Thờ, chưa có một con chiên nào cả, còn thầy mới lên gần hai năm. Trong khi chúng tôi mới ở được có hai ngày, thậm chí trong lúc mệt mỏi còn lỡ miệng phát biểu rằng: nếu biết xa xôi thế này, sẽ chẳng dám đi. Thế mới biết các ngài đã hy sinh như thế nào, gầy dựng từ con số không ở một nơi khó khăn khắc nghiệt, thiếu thốn mọi bề. Kết quả thấy được là các ngài đã hướng dẫn được cho họ cả về tâm linh lẫn cách ăn nết ở. Họ đã nhận ra Chúa vẫn luôn ở cùng họ và họ đã biết được cách tương giao mật thiết thân tình với Chúa qua lời cầu nguyện thật thà chân thành nhất...

Qua chuyến đi, chúng tôi đã đón nhận được vài điều muốn chia sẻ với các bạn:

·      Còn rất nhiều anh em chúng ta ở vùng sâu vùng xa, nhất là anh em dân tộc ít người trung kiên nhưng rất nghèo khó và các Linh Mục, Tu Sĩ đang ngày đêm gian truân dấn thân trong cánh đồng truyên giáo mênh mông. Tất cả đều rất cần đến sự quan tâm chia sẻ của tất cả chúng ta.

·      Người dân tộc rất đơn sơ, thuần khiết. Ði Lễ, họ không đọc kinh nhiều, nhưng lại hay trò truyện, cầu nguyện với Chúa, có gì nói cái đó, không văn hoa cầu kỳ giả tạo. Hầu như toàn bộ họ đều lên rước Lễ. Chính tâm hồn đơn sơ giúp họ dễ dàng đến với Chúa hơn.

·      Các bạn trẻ lập gia đình rất sớm, lại sinh con rất dầy. Công việc chủ yếu dựa vào nghề nông, nghề rẫy, phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết bất thường, chính vì vậy mà cứ họ cứ phải ở trong cái vòng đời luẩn quẩn của đói nghèo hết thế hệ này đến thế hệ khác.

·      Vệ sinh cá nhân của người dân tộc rất kém, họ sống sơ khai, ít tắm rửa, bệnh phụ nữ rất nhiều nhưng họ dấu đi hoặc không cho đó là quan trọng...

Chuyến đi về nhanh hơn vì bác tài đã quen đường và đường đổ dốc, trên xe mọi người lại sốt sắng đọc một chuỗi Mai Khôi đểû cám ơn Mẹ và Tạ Ơn Thiên Chúa về những ơn riêng cho mỗi người và cho cả đoàn. Ðến 24 giờ các bạn ở Sài-gòn đã có mặït tại nhà, một số anh chị ở ngoại thành chắc phải 0 giờ 30 sáng 25.3 mới về tới nhà, để rồi hôm sau lại tiếp tục những công việc thường ngày. Văng vẳng bên tai vẫn còn đó lời nói tiễn biệt của cha Tài: "Chúa đã dẫn các anh chị lên đây chắc chắn là để nói với các anh chị điều gì đó". Tôi xin mạn phép ghi lại đây để các anh chị suy nghĩ thêm với tôi xem Ch